Giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại-Đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của nó

Giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại-Đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của nó

 Tận ngày nay, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là đối tượng tấn công quyết liệt của những thế lực thù địch, mà trư­ớc hết là từ phía giai cấp tư­ sản và các lực lượng phản cách mạng khác. Và, mỗi lần như­ vậy, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin lại vư­ợt qua những ảo  tư­ởng, những ấu trĩ và những hạn chế của lịch sử để rồi hoàn thiện và phù hợp hơn với tiến trình phát triển của xã hội.

Ngày nay, tr­ước sự biến động phức tạp, khó l­ường của tình hình thế giới, trước sự phát triển quanh co của lịch sử, nhất là từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, chủ nghĩa tư bản tạm thời thắng thế,  làn sóng hận thù chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin lại dấy lên khắp mọi nơi. Nhân cơ hội đó, đã có không ít những người vốn là mác xít, nay trở cờ, lật lọng quay lại phê phán, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, phủ nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và rêu rao về sự “tận cùng của lịch sử”.

 Trong bối cảnh đó, việc làm sáng tỏ và nhận thức lại đúng đắn hơn về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và thiết thực.

1. Về khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam

Bàn về khái niệm giai cấp công nhân, cho tới nay, tuỳ thuộc vào lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phư­ơng pháp tiếp cận , vẫn còn những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngư­ợc nhau.

C. Mác trong bức thư­ gửi Vây-Đơ Maye (năm 1852) đã thừa nhận, việc phát hiện ra giai cấp và đấu tranh giai cấp, không phải là công lao của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, công lao đó thuộc về các nhà sử học Pháp: G. Phrăngxoa Ghi đô (1776-1874), Ô. Guyxtanh Chirey (1795-1856), Phrăngxoa Mi nhê (1796-1884)… Công lao của C. Mác chỉ là phát hiện ra: vấn đề đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; và chuyên chính vô sản chỉ là bư­ớc quá độ từ xã hội có giai cấp đến xã hội không giai cấp.

Ngay từ năm 1845, khi bắt tay vào việc nghiên cứu giai cấp công nhân, trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C. Mác đã đặt câu hỏi: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực sự là gì và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1]. Trong các tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen”(1844), “Tình cảnh những người lao động ở Anh” (1844-1845), “ Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” (1847), “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848)… C. Mác và Ph. Angghen đã bàn và sử dụng nhiều từ đồng nghĩa để biểu đạt khái niệm giai cấp công nhân: “giai cấp công nhân”, “giai cấp vô sản”, “giai cấp vô sản công nghiệp”, “giai cấp vô sản hiện đại”, “giai cấp công nhân hiện đại”, “giai cấp vô sản công nghiệp”, “giai cấp công nhân công xưởng, nhà máy”, “giai cấp công nhân đại cơ khí” và nhiều thuật ngữ khác nữa. Ngoài ra, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử dụng một số hình thức diễn đạt khác nh­ư: “lao động làm thuê”, “giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình”, “giai cấp của những người hoàn toàn không có của”, “giai cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX”… Cần khẳng định rằng, tất cả những thuật ngữ đồng nghĩa này chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt trong những văn cảnh cụ thể của một khái niệm: giai cấp công nhân. Sự khác nhau căn bản, theo các ông, chỉ là sự khác nhau giữa những công nhân đứng máy (thuộc về những người này có một số công nhân trông coi máy phát động, nghĩa là cho nó ăn than, dầu) và những người giúp việc (hầu hết là trẻ em) cho những công nhân cơ khí đó. Trên một mức độ nhiều hay ít, tất cả những feeders (những người chỉ nạp nguyên liệu cho máy móc) đều là những người giúp việc. Bên cạnh những loại thợ chính đó còn có những người, với một số lượng không đáng kể, làm công việc kiểm tra toàn bộ máy móc và thường xuyên sửa chữa máy móc nh­ư kỹ sư, thợ máy, thợ mộc v.v… Đó là lớp công nhân cao cấp, một phần có tri thức khoa học, một phần có tính thủ công, đứng ngoài giới công nhân công x­ởng và chỉ được kết hợp với những công nhân này thôi. Sự phân công lao động đó có tính chất thuần tuý công nghệ”[2]

Ngoài ra, khi phân biệt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân gắn với vai trò, sứ mệnh mệnh sử thế giới của nó với sự biến dạng bản chất ấy, sự tha hoá, đánh mất mình của giai cấp vô sản trong tình trạng bị nô dịch bởi chủ nghĩa tư­ bản, các nhà kinh điển đã sử dụng những thuật ngữ đối ngược nhau: “giai cấp vô sản cách mạng” và tầng lớp “vô sản l­uư manh” mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội t­ư sản. Đồng thời, cũng để phân biệt giai cấp công nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục và trở thành công cụ của giai cấp tư­ sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong, m­uư toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật tự của “chủ nghĩa công liên” vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư­ t­ởng t­ư sản và tiểu t­ư sản thao túng, các ông cần sử dụng thuật ngữ “công nhân quý tộc”. Vậy là, theo các ông “ công nhân quí tộc” và tầng lớp vô sản l­uư manh không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà hoặc đã trở thành bộ phận của giai cấp tư­ sản hoặc là tầng lớp cặn bã của xã hội.

Tất cả những diễn đạt nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân của các nhà kinh điển được đặt trong hoàn cảnh lịch sử từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở các ông đã đư­a vào hai tiêu chí để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác:

Thứ nhất, về phư­ơng thức lao động, ph­ương thức sản xuất: giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá, quốc tế hoá cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại vời người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong công trường thủ công. C. Mác viết: “Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công x­ưởng thì người công nhân phải phục tùng máy móc”[3]. Đối với C. Mác và Ph. ăngghen, giai cấp công nhân là tập đoàn người, bao gồm những người công nhân công x­ưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát triển cùng với sự phát triển của đại công nghiệp: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[4]; “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như­ máy móc vậy… Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại…”[5] Là sản phẩm của đại công nghiệp, nên giai cấp công nhân là hiện thân của lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại, đại biểu cho ph­ơng thức sản xuất tiên tiến, và, do đó nó có những phẩm chất riêng mà không có giai tầng nào có được. Đó là: tính tiên tiến, hiện đại; ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác phong công nghiệp, tinh thần khoa học và thái độ cách mạng triệt để; tinh thần quốc tế cao cả và trong sáng…

Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất t­ư bản chủ nghĩa (không phải trong các quan hệ sản xuất khác- DXN nhấn mạnh): Giai cấp công nhân – giai cấp những người làm thuê thế kỷ XIX, do không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư­ bản và bị nhà t­ư bản bóc lột giá trị thặng dư­. Và, chính vì vậy mà giai công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp t­ư sản: “Giai cấp t­ư sản, tức giai cấp tư­ bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, tức là giai cấp chỉ có thể kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm t­ư bản, cũng phát triển theo. Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán nh­ư bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường…”[6].

Căn cứ vào hai tiêu chí trên, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ph. Anghen đã đ­a ra định nghĩa về giai cấp vô sản: “Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX… Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”[7].

Phát triển học thuyết của Mác và Ph. Anghen trong Thời đại Đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng và mới về giai cấp, Lênin đã bổ sung thêm những thuộc tính mới của giai cấp công nhân. Theo Lênin, sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự khác nhau của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, sự khác nhau trong quan hệ đối với quản lý sản xuất và khác nhau trong quan hệ phân phối sản phẩm. Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, Lênin đã đ­a ra một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp;  trong những tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, “Nhà n­ước và cách mạng”, “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”… Lênin đã  đư ra một định nghĩa mẫu mực về giai cấp công nhân:  “là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách t­ư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu h­ướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tư­ cách là giai cấp vô sản[8].

Xuất phát từ quan niệm trên, có thể đi tới định nghĩa về giai cấp công nhân nh­ư sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển gắn liền với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại và nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển với trình độ xã hội hoá, quốc tế hoá cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại hiện nay; là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách t­ư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp..

Từ cách tiếp cận như vậy có thể định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn người, mà lao động của họ gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp hiện đại, thu nhập chủ yếu của họ bằng làm công ăn lương; là lực lượng sản xuất chủ yếu và là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

2. Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam

Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt nam từ  thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân Pháp  lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phảt triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng:

Thứ nhất: Sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp công nhân đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận và giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ sau các phong trào cứu nước theo lập trường Cần Vương, lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại.

Thứ hai: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, đã sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng triệt để.

Thứ ba: Giai cấp công nhân nước ta xuất thân từ nông dân lao động, bị thực dân phong kiến bóc lột, bần cùng hóa nên có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng,  liên minh giai cấp đã trở thành động lực và là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ tư: Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam luôn  phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp  và nền kinh tế tri thức hiện đại.

Thứ năm: Quá trình “trí thức hoá” giai cấp công nhân  diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.

Việc hình thành giai cấp công nhân trí thức không có nghĩa là sự bổ sung vào lực lượng giai cấp công nhân những công nhân có trình độ cao mà là giai cấp công nhân được nâng cao về trình độ và có sự thay đổi về tính chất lao động- lao động điều khiển những công nghệ tự động hoá của nền kinh tế tri thức.

3. Nội dung sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam

 Là sản phẩm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức ngày càng hiện đại hoá và quốc tế hoá, giai cấp công nhân  là giai cấp tiên tiến , luôn nằm ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội. Xuất phát từ địa vị kinh tế – xã hội và  từ đặc điểm riêng có của mình, giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử cao cả là  giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách t­ư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.

Về nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, Anghen đã khẳng định “Thực hiện sự  nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”[9]. Lênin  cũng chỉ rõ  “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”[10]

Vậy là, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, phạm trù sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới, bao gồm ba nội dung cơ bản nhất:

Một là,  là giai cấp thống trị về chính trị.

Với địa vị thống trị về chính trị, giai cáp công nhân là giai cấp quyết định xu hướng phát triển của lịch sử;  giai cấp cầm quyền ở mốt  số quốc gia trên thế giới. Từ sau tháng lợi của cách mạng tháng mười Nga vĩ đại, thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã mở ra trên phạm vi toàn thế giới.

Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế năm 1957 và 1960 đã xác định nội dung căn bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội  mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Từ đó đến nay, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội có lâm vào thoái trào, song tính chất, nội dung của thời đại vẫn không thay đổi.

Thứ hai, giai cấp công nhân là động lực và là lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự  áp bức, bóc lột và sự tha hoá con người, sáng tạo ra xã hội mới .

Nhân loại đã từng trải qua nhiều chế độ áp bức, bóc lột. Ở đó, con người bị đẩy đến tận cùng của sự tha hoá cả trong lao động và trong quyền lực. Thủ tiêu  áp bức, bóc lột và mọi hình thức tha hoá, thực hiện sự giải phóng triệt để con người, đòi hỏi, giai cấp vô sản trư­ớc hết phải giành lấy dân chủ, giành lấy chính quyền, điều mà Mác và Angghen đã nói trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” hơn 150 năm tr­ớc đây.

 Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân trở thành lực lượng  lãnh đạo, tổ chức và thực hiện quá trình xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi mỗi dân tộc và trên toàn thế giới, thực hiện sự  nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngời

Thứ ba, giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.

Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không phải vì duy trì giai cấp công nhân, mà vì giải phóng triệt để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C. mác- Ph Angghen đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nước cũng bị xoá bỏ. Và, do đó, với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Tất nhiên con đường đi tới xã hội hông giai cấp còn quanh co và nhiều phức tạp. Nhận thức đúng về  tính tất yếu để xây dựng lý tưởng, mục tiêu, song không được ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” (1844), Mác và Ăngghen đã chỉ rõ về phư­ơng pháp luận tiếp cận khái niệm “giai cấp vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân” là: “ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử?”[11].

                Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, có thể khái quát  nội dung sứ mệnh lịch sử  như sau: Giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Trước mắt, trong những năm tới, thực hiện thắng lợi mục tiêu:” Nâng cao năng lực và sức chiến đáu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuôcj đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị- xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Trong nội dung tổng quát về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, nội dung kinh tế của sứ mệnh được xác định là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước trở thành nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởg kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng- an ninh”. Nói một cách khái quát về sứ mệnh lịch sử của giai cấp cong nhân Việt Nam là : xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

                5. Điều kiện để giai cấp công hân Việt Nam hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử

                Trong điều kiện hiện nay, cách mạng nước ta  đang đứng trước những cơ hội to lớn, đồng thời cũng đối mặt với những thách thức không thể xem thường; cơ hội và thứch thức, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau, để giai cấp công nhân hoàn thành xuất sác sứ mệnh lịch sử của mình đòi hỏi phải bảo đảm những điều kiện sau:

                Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải thực sự sáng suốt, trí tuệ, bản lĩnh. Trên cơ sở dự báo đúng tình hình,  hoặch định đường lối đúng đắn, chỉ đạo kiên quyết, kịp thời, khôn khéo, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng thực sự là đại diện cho trí tuệ, lương tâm, và danh dự. Mọi sự  hoài nghi, dao động, hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, ngay cả dưới hình thức đòi đa đảng, đa nguyên, cũng đều dẫn tới sự  đổi hướng, chuyển màu và những hậu quả khôn lường sẽ trút lên đầu nhân dân. Đã đến lúc Đảng ta càn có nghị quyết về giai cấp công nhân để định hướng chiến lược và xác định lộ trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức.

                Thứ hai, Sự năng động và hiệu quả trong công tác quản lý của Nhà nước, đặc biệt là công tác điều hành của Chính phủ, khả năng chống quan liêu, tham nhũng được chứng tỏ trên thực tế.

                Năng lực tổ chức, điều hành của Nhà nước, trước hết ở việc hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý theo luật; đồng thời phải kiện toàn bộ máy, trớc hết là bộ máy hành chính gọn nhẹ, khắc phục tình trạng chồng chéo, tiến tới cải cách triệt để nền hành chính trên cả bốn nội dung: Thể chế hành chính; bộ máy hành chính; đội ngũ công chức và tài chính công, đảm bảo nền hành chính vững mạnh, trong sạch, quản lý hiệu lực và hiệu quả.

Thứ ba, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện và môi trường kinh tế – xã hội xây dựng và phát triển giai cấp công nhân

                Là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội, kinh tế thị trường phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. . ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta càng sớm hội nhập nền kinh tế thị trường nước ta với kinh tế thị trường thế giới thì chúng ta càng sớm có chủ nghĩa xã hội. Bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội không chỉ bảo đảm cho lực lượng sản xuất phát triển mà còn tạo ra quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hoá cao. Có như vậy, chúng ta mới có cơ hội phát huy tối đa sức mạnh  nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, như những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và các thành tựu khác của thời đại để phát triển kinh tế và thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội. Lênin đã từng khẳng định: “Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nhà nước về mặt kinh tế”[12]. Trong điều kiện hiện nay, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường đồng thời với việc hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường, trong đó tập trung vào năm thể chế: Thị trường hàng hoá và dịch vụ; thị trường tài chính; thị trường bất động sản; thị trường sức lao động và thị trường khoa học và công nghệ; cũng như  phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh đoanh…

 Thứ tư, phát triển kinh tế, tạo ra sự phù hợp giữa chính trị với kinh tế, đồng thời phải phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc tạo nền tảng văn hoá tinh thần cho phát triển nhanh, hiêụ quả và bền vững. Hội nghị Trung Ương 10 khoá IX đã khẳng định :“ Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nư­ớc”. Phát triển kinh tế gắn với xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng và xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tạo thế “ba chân kiềng” cho sự phát triển cũng chính là tạo điều kiện và cơ hội để giai cáp công nhân Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ năm, khả năng tạo lập và giữ vững ổn định chính trị tích cực từ toàn bộ thể chế cho đến sự đồng thuận xã hội. ổn đinh để phát triên, phát triển để bảo đảm ổn định là vấn đề mạng tính qui luật. Không ổn định thì không có cơ hội và môi trường để phát triển và do đó giai cấp công nhân không có khả năng hoàn thành sứ mệnh của mình.

Thứ sáu, giai cấp công nhân phải không ngừng tự đổi mới để phát triển cả về số lượng và cả về chất lượng, thực sự là lực lượng đi đầu và là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Muốn vậy, giai cấp cong hân phải được đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn, tay nghề, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, phải thực sự nâng cao trình độ mọi mặt để thích ứng được với cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, đặc biệt là phải thực sự trở thành  “ công nhân trí thức” của nền kinhtế tri thức./.

 

 

 

 

 

Tiểu luận CNXH- Giai cấp CN Việt Nam

 

I/Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam
Bàn về khái niệm giai cấp công nhân, cho tới nay, tuỳ thuộc vào lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phư¬ơng pháp tiếp cận , vẫn còn những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngư¬ợc nhau.
Thứ nhất, về phư¬ơng thức lao động, ph¬ương thức sản xuất: giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá, quốc tế hoá cao
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất t¬ư bản chủ nghĩa: Giai cấp công nhân là giai cấp của những người làm thuê,do không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư¬ bản và bị nhà t¬ư bản bóc lột giá trị thặng dư¬
Tựu chung lại: giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi… Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”
Và, chính vì vậy mà giai công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp t¬ư sản: “Giai cấp t¬ư sản, tức giai cấp tư¬ bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, tức là giai cấp chỉ có thể kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm t¬ư bản, cũng phát triển theo. Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán nh¬ư bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường…”
Tuy nhiên chính vì thế mà giai cấp công nhân magn trong mình một trách nhiệm to lớn mà Mác và Anghen đã nói: giai cấp công nhân: “là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu h¬ướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tư¬ cách là giai cấp vô sản
Xuất phát từ quan niệm trên, có thể đi tới định nghĩa về giai cấp công nhân nh¬ư sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển gắn liền với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại và nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển với trình độ xã hội hoá, quốc tế hoá cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại hiện nay; là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp..
Từ cách tiếp cận như vậy có thể định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn người, mà lao động của họ gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp hiện đại, thu nhập chủ yếu của họ bằng làm công ăn lương; là lực lượng sản xuất chủ yếu và là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
II/Đặc diểm của giai cấp công nhân Việt Nam
Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt nam từ thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình phảt triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng:
Thứ nhất: Sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp công nhân đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận và giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ sau các phong trào cứu nước theo lập trường Cần Vương, lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại.
Thứ hai: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, đã sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn có tinh thần và bản chất cách mạng triệt để.
Thứ ba: Giai cấp công nhân nước ta xuất thân từ nông dân lao động, bị thực dân phong kiến bóc lột, bần cùng hóa nên có mối quan hệ máu thịt với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, liên minh giai cấp đã trở thành động lực và là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Thứ tư: Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam luôn phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại.
Thứ năm: Quá trình “trí thức hoá” giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.
Việc hình thành giai cấp công nhân trí thức không có nghĩa là sự bổ sung vào lực lượng giai cấp công nhân những công nhân có trình độ cao mà là giai cấp công nhân được nâng cao về trình độ và có sự thay đổi về tính chất lao động- lao động điều khiển những công nghệ tự động hoá của nền kinh tế tri thức.
III/ Nội dung sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam
Là sản phẩm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức ngày càng hiện đại hoá và quốc tế hoá, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến , luôn nằm ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội. Xuất phát từ địa vị kinh tế – xã hội và từ đặc điểm riêng có của mình, giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử cao cả là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Về nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, Anghen đã khẳng định “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”. Lênin cũng chỉ rõ “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”
Vậy là, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, phạm trù sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới, bao gồm ba nội dung cơ bản nhất:
Thứ nhất,giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị.Với địa vị thống trị về chính trị, giai cáp công nhân là giai cấp quyết định xu hướng phát triển của lịch sử; giai cấp cầm quyền ở mốt số quốc gia trên thế giới. Từ sau tháng lợi của cách mạng tháng mười Nga vĩ đại, thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã mở ra trên phạm vi toàn thế giới.
Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế năm 1957 và 1960 đã xác định nội dung căn bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Từ đó đến nay, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội có lâm vào thoái trào, song tính chất, nội dung của thời đại vẫn không thay đổi.
Thứ hai, giai cấp công nhân là động lực và là lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự áp bức, bóc lột và sự tha hoá con người, sáng tạo ra xã hội mới .
Nhân loại đã từng trải qua nhiều chế độ áp bức, bóc lột. Ở đó, con người bị đẩy đến tận cùng của sự tha hoá cả trong lao động và trong quyền lực. Thủ tiêu áp bức, bóc lột và mọi hình thức tha hoá, thực hiện sự giải phóng triệt để con người, đòi hỏi, giai cấp vô sản trư¬ớc hết phải giành lấy dân chủ, giành lấy chính quyền, điều mà Mác và Angghen đã nói trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” hơn 150 năm tr¬ớc đây.
Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân trở thành lực lượng lãnh đạo, tổ chức và thực hiện quá trình xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi mỗi dân tộc và trên toàn thế giới, thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngời
Thứ ba, giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không phải vì duy trì giai cấp công nhân, mà vì giải phóng triệt để con người. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” C. mác- Ph Angghen đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nước cũng bị xoá bỏ. Và, do đó, với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Tất nhiên con đường đi tới xã hội hông giai cấp còn quanh co và nhiều phức tạp. Nhận thức đúng về tính tất yếu để xây dựng lý tưởng, mục tiêu, song không được ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” (1844), Mác và Ăngghen đã chỉ rõ về phư¬ơng pháp luận tiếp cận khái niệm “giai cấp vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân” là: “ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử?”
Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, có thể khái quát nội dung sứ mệnh lịch sử như sau: Giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Trước mắt, trong những năm tới, thực hiện thắng lợi mục tiêu:” Nâng cao năng lực và sức chiến đáu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuôcj đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị- xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Trong nội dung tổng quát về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, nội dung kinh tế của sứ mệnh được xác định là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước trở thành nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởg kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với tăng cường quốc phòng- an ninh”. Nói một cách khái quát về sứ mệnh lịch sử của giai cấp cong nhân Việt Nam là : xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

IV/ Điều kiện để giai cấp công hân Việt Nam hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử
Trong điều kiện hiện nay, cách mạng nước ta đang đứng trước những cơ hội to lớn, đồng thời cũng đối mặt với những thách thức không thể xem thường; cơ hội và thứch thức, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau, để giai cấp công nhân hoàn thành xuất sác sứ mệnh lịch sử của mình đòi hỏi phải bảo đảm những điều kiện sau:
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải thực sự sáng suốt, trí tuệ, bản lĩnh. Trên cơ sở dự báo đúng tình hình, hoặch định đường lối đúng đắn, chỉ đạo kiên quyết, kịp thời, khôn khéo, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng thực sự là đại diện cho trí tuệ, lương tâm, và danh dự. Mọi sự hoài nghi, dao động, hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, ngay cả dưới hình thức đòi đa đảng, đa nguyên, cũng đều dẫn tới sự đổi hướng, chuyển màu và những hậu quả khôn lường sẽ trút lên đầu nhân dân. Đã đến lúc Đảng ta càn có nghị quyết về giai cấp công nhân để định hướng chiến lược và xác định lộ trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, Sự năng động và hiệu quả trong công tác quản lý của Nhà nước, đặc biệt là công tác điều hành của Chính phủ, khả năng chống quan liêu, tham nhũng được chứng tỏ trên thực tế. Năng lực tổ chức, điều hành của Nhà nước, trước hết ở việc hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý theo luật; đồng thời phải kiện toàn bộ máy, trớc hết là bộ máy hành chính gọn nhẹ, khắc phục tình trạng chồng chéo, tiến tới cải cách triệt để nền hành chính trên cả bốn nội dung: Thể chế hành chính; bộ máy hành chính; đội ngũ công chức và tài chính công, đảm bảo nền hành chính vững mạnh, trong sạch, quản lý hiệu lực và hiệu quả.
Thứ ba, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện và môi trường kinh tế – xã hội xây dựng và phát triển giai cấp công nhân
Là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội, kinh tế thị trường phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. . ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khác về bản chất so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta càng sớm hội nhập nền kinh tế thị trường nước ta với kinh tế thị trường thế giới thì chúng ta càng sớm có chủ nghĩa xã hội. Bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội không chỉ bảo đảm cho lực lượng sản xuất phát triển mà còn tạo ra quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hoá cao. Có như vậy, chúng ta mới có cơ hội phát huy tối đa sức mạnh nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, như những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và các thành tựu khác của thời đại để phát triển kinh tế và thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội. Lênin đã từng khẳng định: “Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nhà nước về mặt kinh tế”. Trong điều kiện hiện nay, phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường đồng thời với việc hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường, trong đó tập trung vào năm thể chế: Thị trường hàng hoá và dịch vụ; thị trường tài chính; thị trường bất động sản; thị trường sức lao động và thị trường khoa học và công nghệ; cũng như phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh đoanh…
Thứ tư, phát triển kinh tế, tạo ra sự phù hợp giữa chính trị với kinh tế, đồng thời phải phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc tạo nền tảng văn hoá tinh thần cho phát triển nhanh, hiêụ quả và bền vững. Hội nghị Trung Ương 10 khoá IX đã khẳng định :“ Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nư¬ớc”. Phát triển kinh tế gắn với xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng và xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tạo thế “ba chân kiềng” cho sự phát triển cũng chính là tạo điều kiện và cơ hội để giai cáp công nhân Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Thứ năm, khả năng tạo lập và giữ vững ổn định chính trị tích cực từ toàn bộ thể chế cho đến sự đồng thuận xã hội. ổn đinh để phát triên, phát triển để bảo đảm ổn định là vấn đề mạng tính qui luật. Không ổn định thì không có cơ hội và môi trường để phát triển và do đó giai cấp công nhân không có khả năng hoàn thành sứ mệnh của mình.
Thứ sáu, giai cấp công nhân phải không ngừng tự đổi mới để phát triển cả về số lượng và cả về chất lượng, thực sự là lực lượng đi đầu và là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Muốn vậy, giai cấp cong hân phải được đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn, tay nghề, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, phải thực sự nâng cao trình độ mọi mặt để thích ứng được với cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, đặc biệt là phải thực sự trở thành “ công nhân trí thức” của nền kinhtế tri thức.
V/Công nhân Việt Nam trước vận hội của đất nước
Nhờ thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đang đứng trước vận hội mới to lớn hơn bao giờ hết. Nhân tố trực tiếp là sự phát triển nhanh chóng và không ngừng đi lên của nền kinh tế; trong đó nền công nghiệp mà giai cấp công nhân là lực lượng hành động, giữ vai trò quyết định nhất.Là lực lượng nòng cốt, chủ yếu và tiền phong của dân tộc, giai cấp công nhân ta có vinh dự và trách nhiệm nặng nề là nhân lên vận hội mới của dân tộc bằng đẩy nhanh hơn nữa nhịp độ phát triển nền công nghiệp và dịch vụ với năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, nhằm đáp ứng thoả mãn yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đặc biệt là đứng vững, là đi lên trong hội nhập kinh tế và cạnh tranh quyết liệt của thị trường thế giới, làm cơ sở cho tự chủ về kinh tế.
Dưới tác động của khoa học và công nghệ , hơn 20 năm qua kinh tế tri thức hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển và đang lan tỏa nhanh chóng đến các nước đang phát triển. Cả nhân loại đang chuyển từ nền kinh tế công nông nghiệp sang nền kinh tế trí tuệ. Sự phân công lao động xã hội từ chủ yếu dựa vào sự phát triển của công nghiệp cơ khí sang sự nhát triển của tri thức. Thực tế, nền kinh tế tri thức phát triển đến đâu thì lao động trí tuệ thay thế dần lao động cơ bắp đến đó. Xu thế toàn bộ nguồn nhân lực, đặc biệt công nhân trí thức hóa đang tác động mạnh mẽ đến mọi quá trình phát triển. Kinh tế tri thức mới hình thành và phát triển đã làm thay đổi định hướng phát triển kinh tế từ chỉ vì lợi nhuận chuyển sang đinh hướng phát triển đồng thuận giữa kinh tế xã hội môi trường. Tác động về mặt xã hội thể hiện sự xoá bỏ dần khoảng cách giữa lao động chân tay và lao động trí óc, xoá bỏ dần lao động sản xuất trực tiếp với lao động lãnh đạo quản lý đội ngũ công nhân đang vươn lên trở thành – giai cấp vô sản trí thức hay công nhân trí thức hóa, làm mất dần sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Theo triết lý của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự phát triển từ thấp đến cao, đội ngũ công nhân đang vươn lên trở thành “giai cấp vô sản trí thức.Vì vậy trí thức hóa đội ngũ công nhân mang tính tất yếu, xuất phát từ yêu cầu của quá trình hiện đại hóa nền sản xuất xã hội. Sự phát triển của xã hội hóa lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà tiền đề là sự phát triển của khoa học, công nghệ – nhân tố quyết định thúc đẩy công nhân hóa lực lượng lao động, trí thức hóa đội ngũ công nhân. Sự phân công lao động xã hội trong kinh tế tri thức rõ nhất từ khi ra đời hình thức công ty cổ phần có công nhân lao động tham gia. Trong các Công ty Cổ phần mà cổ đông là công nhân chiếm trên 50% tổng số vấn, công nhân trí thức đã tham gia quản lý doanh nghiệp. Những lực lượng này có thu nhập cao, bởi lẽ ngoài tiền lương, công nhân còn được hưởng cổ tức, đội ngũ công nhân này ngày càng đông. Đây là lực lượng chủ yếu của nền kinh tế tri thức, bao gồm công nhân kỹ thuật cao, nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia các lĩnh vực. Đó là những người tạo ra của cải vật chất và văn minh xã hội.Tốc độ công nhân hóa lực lượng lao động xã hội, trí thức hóa công nhân rất nhanh ở các nước công nghiệp phát triển và các nước công nghiệp mới . Nguyên nhân cơ bản là do sự đổi mới thiết bị các ngành công – nông nghiệp và dịch vụ truyền thống bằng công nghệ cao, phát triển mạnh các ngành công nghiệp, dịch vụ dựa nhiều vào tri thức. Kinh tế tri thức phát triển, thực tế đang làm thay đổi định hướng phát triển kinh tế chỉ dựa vào lợi nhuận sang sự phát triển đồng thuận giữa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Đội ngũ công nhân hình thành và nhát triển là “sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”, công nhân trí thức là sản phẩm của bản thân kinh tế tri thức và được định danh là công nhân trí thức. Tức là công nhân phải vừa có đủ khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại, vừa có khả năng hoạt động sáng tạo, linh hoạt với trình độ chuyên môn cao. Công nhân trí thức có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, công nhân được đào tạo ở trình độ KHCN cao làm việc ở những ngành tạo ra “những sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức”. Tỷ lệ công nhân trí thức phát triển nhanh và chiếm ưu thế trong tổng lao động xã hội theo hướng 70% GDP do ngành kinh tế kỹ thuật cao mang lại, 70% cơ cấu giá trị gia tăng từ lao động trí tuệ, 70% lao động là công nhân trí thức, vốn về con người chiếm 70%.
Hai là, có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nghề nghiệp. Yêu cầu này đòi hỏi công nhân trí thức không những có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, mà còn thích ứng nhanh với những công việc mới do tiến bộ KH&CN luôn luôn đổi mới, từ việc sáng tạo đến sử dụng và chuyển giao vào sản xuất với tốc độ cao. Sự phát triển kinh tế tri thức ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức cho thấy, trong vòng 5 – 10 năm trở lại đây, nội dung lao động của các ngành kinh tế lạc hậu tới 30%, riêng ngành điện tử lạc hậu trên 50%, cứ 1-3 năm có thể loại bỏ một mặt hàng, 3- 5 năm có khả năng loại bỏ hẳn một ngành sản xuất. Mặt khác, sự sản xuất mang tính quốc tế làm cho không gian hoạt động của lao động ngày càng mở rộng. Những điều đó đòi hỏi công nhân phải có khả năng bổ sung tri thức nghề nghiệp để có thể thích ứng cao khi thay đổi công việc.
Ba là, công nhân trí thức phải có khả năng sáng tạo tri thức mới. Bởi vì đặc điểm của kinh tế tri thức là vòng đời công nghệ rất ngắn. Các nhà sản xuất muốn tồn tại và phát triển phải luôn luôn đổi mới công nghệ, trong đó sự sáng tạo của công nhân là linh hồn của sự tồn tại và là động lực của nền kinh tế tri thức. Trước đây, người ta thường chọn những công nghệ đã chín muồi thì, nay trong nền kinh tế tri thức phải tìm chọn công nghệ mới nảy sinh. Do vậy, công nhân phải có trình độ chuyên môn cao, vận dụng sáng tạo và phát triển nó. Sự gia tăng về số lượng công nhân và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong lực lượng lao động xã hội là một thực tế khách quan, xuất phát từ sự biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp nhằm đáp ứng yêu cẩu của sản xuất hiện đại. Sự phát triển của xã hội hóa lực lượng sản xuất trong quá trình CNH, HĐH là nhân tố quyết định thúc đẩy trí thức hóa công nhân. Chính lực lượng này tạo ra năng suất lao động cao của xã hội hiện đại và tạo ra đặc điểm phân biệt thời đại ngày nay với các thời đại trước đó. Xu thế công nhân hóa lực lượng lao động, trí thức hóa công nhân còn liên quan đến tác phong, lối sống của cả xã hội: “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.
Trước xu thế phát triển mạnh mẽ của thế giới hướng vào kinh tế tri thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi “trí thức hóa giai cấp công nhân là đòi hỏi khách quan. Phải đầu tư chiều sâu tạo ra đội ngũ công nhân vững cả lý thuyết lẫn tay nghề, nắm vững công nghệ hiện đại”. Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã đề ra nhiệm vụ “Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”, đồng thời xây dựng tiền đề cho việc trí thức hóa đội ngũ công nhân “Nghiên cứu và thiết lập tại khu công nghệ cao Hoà Lạc và khu công nghiệp phần mềm Quang Trung thành phố Hồ Chí Minh cổng nối trực tiếp với hệ thống Internet quốc tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) chỉ rõ: Thế kỷ XXI sẽ có những biến đổi, KH&CN có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật. Do vậy, về kinh tế “từng bước phát triển kinh tế tri thức”… về xã hội phải thực hiện “trí thức hóa công nhân”.
Chính nhờ định hướng đó, đội ngũ công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh, từ 2,677 triệu người năm 1986 lên 2,857 triệu người (1990), 3,682 triệu người (1996), 4,761 triệu người (2000), 10,8 triệu người (2003), tăng 4,3 lần so với năm 1986. Thực hiện chủ trương “Cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước không cần nắm vững 100% vốn, giao, bán, khoán, cho thuê… sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả” nên số công nhân lao động ở doanh nghiệp Nhà nước giảm cả về tuyệt đối và tương đối. Hiện nay đội ngũ công nhân Việt Nam có 11,5 triệu người (năm 2005), trong đó công nhân làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước có 1,8 triệu người, ở khu vực kinh tế vốn đầu tư nước ngoài có 0,9 triệu người, số còn lại làm việc ở doanh nghiệp dân doanh, chiếm 76,5%. Số công nhân lao động làm việc ở các doanh nghiệp dân doanh tăng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, từ 60% năm 2000 lên 79% (2003), 85% năm 2005.
Kiến thức văn hóa và trình độ nghề nghiệp của đội ngũ công nhân Việt Nam đã có sự thay đổi lớn. Tỷ lệ công nhân không biết chữ và chưa tất nghiệp cấp I không ngừng giảm, từ 5,1% năm 1996 còn 4,6% (1998), 3,7% (2003), 3,3% năm 2005 (8). Số công nhân lao động tất nghiệp cấp III không ngừng tăng, từ 56% năm 1996 lên 62% (1998), 76,6% (2003), 82,44% năm 2005. Trình độ nghề nghiệp và tay nghề của công nhân lao động cũng tăng lên rõ rệt. Số công nhân chưa qua đào tạo giảm từ 46,7% năm 1996 còn 39,5% (1998), 32,3% (2003), 25,1% năm 2005. Số công nhân kỹ thuật được đào tạo có bằng tăng từ 8,41% năm 1996 lên 11,73% (2000), 11,83% (2005). Công nhân trí thức làm việc ở các dây chuyền hiện đại tăng hàng năm. Tuy nhiên, về vấn đề này cũng còn một vài tồn tại:
Một là, tốc độ công nhân hóa lực lượng lao động xã hội, trí thức hóa đội ngũ công nhân rất chậm. Tỷ lệ công nhân lao động trong công nghiệp và xây dựng tăng chậm, từ 11% năm 1986 lên 18,6% (1996), 16% năm 2005. Trong khi đó, lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 29,6783 triệu người năm 1986 còn 22,6508 triệu người năm 2000, 20,5174 triệu lao động năm 2005, và còn chiếm tỷ lệ lớn lực lượng lao động xã hội, 65% năm 1986, 75,8% năm 1996, 68,2% năm 2005. Tốc độ trí thức hóa công nhân chậm, thể hiện: số công nhân thợ bậc thấp giảm chậm, từ 29,6% năm 1998 còn 16,9% năm 2004, 15,52% năm 2005, mỗi năm giảm 1,38%. Hiện nay công nhân kỹ thuật cao làm việc trong các ngành công, nông nghiệp và dịch vụ tạo ra sản phẩm có hàm lượng tri thức cao mới chỉ chiếm 20%.
Hai là, chất lượng công nhân trí thức thấp và còn có khoảng cách xa so với yêu cầu của sự phát triển kinh tế tri thức. Chất lượng công nhân nói chung, công nhân trí thức Việt Nam nói riêng thấp, thể hiện ở 3 mặt: Trước hết, trình độ học vấn thấp, số công nhân chưa tốt nghiệp cấp I còn 3,3%, số công nhân tốt nghiệp Trung học cơ sở còn 14,7%, trình độ chuyên môn thấp, thể hiện chất lượng lao động qua đào tạo phần đông không đáp ứng yêu cầu sản xuất trong đây chuyền sản xuất kỹ thuật cao, thường phải mất một thời gian đào tạo lại tại cơ sở sản xuất. Theo đánh giá của ILO, chất lượng lao động ở Việt Nam chỉ đạt 29,6%, trong khi ở Philippines là 49,7%, ở Trung Quốc là 52,5%, ở Singapore là 70,26%, ở Hàn Quốc là 76,73% . Một bộ phận không nhỏ công nhân lao động “không nhận thức rõ vai trò quan trọng của giai cấp mình, thiếu tính tiền phong gương mẫu “không nhận mình là giai cấp lãnh đạo”, nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân một cách chung chung, rất ít hiểu biết về chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ba là, đội ngũ cán bộ KH&CN, lực lượng chủ chất thúc đẩy trí thức hóa công nhân đông, nhưng chất lượng chưa cao. Kết quả học tập “giỏi” nhưng tư duy sáng tạo yếu, không linh hoạt trong điều tiết công việc, trình độ hiểu biết ngoại ngữ của sinh viên, kể cả phần đông Giáo sư, Tiến sĩ còn rất sơ sài. Tất cả những điều trên thể hiện năng lực hội nhập quốc tế của cán bộ KH & CN Việt Nam thấp và còn tụt hậu rất xa so với khu vực và thế giới về chuyên môn, tin học, ngoại ngữ và thể lực. Theo đánh giá của ILO, về trí tuệ cán bộ khoa học Việt Nam chỉ đạt 23%, ngoại ngữ: 25%, khả năng tiếp cận KH&CN mới đạt 20%, Số công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các Tạp chí khoa học quốc tế và bằng phát minh sáng chế do cơ quan bảo hộ quốc tế cấp rất thấp. Theo số liệu thống kê của ILO, từ năm 1998 đến năm 2002, thế giới công bố được 35 vạn công trình KH & CN, trong đó sự đóng góp của Mỹ là 119.000 công trình, Singapore là 6.932 công trình, ThaiLan là 5.210 công trình, Malaysia là 2.088 công trình, trong khi Việt Nam chỉ có 250 công trình. Chất lượng cán bộ KH&CN Việt Nam thấp còn thể hiện ở khả năng phát huy năng lực của mình còn yếu. Theo số liệu của Nhà xuất bản Thống kê Việt Nam về đánh giá tiềm năng KH & CN Việt Nam năm 2000 thì cán bộ KH&CN ở cương vị lãnh đạo phát huy tất khả năng của mình chỉ chiếm 35,2%, yếu là 26,73%, cán bộ KHCN cao phát huy tất chiếm 34,9%, yếu 27,8%, cán bộ chuyên môn nghiên cứu phát huy tốt có 36,02%, yếu 26, 69%.
Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại đó là do nền kinh tế nước ta vẫn còn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm thu nhập thấp (LIC) dưới 825 USD. Năm 2005 tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp còn cao (29,6%) với số lao động trong các ngành nông nghiệp còn lớn (56,8%). Tỷ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo năm 2005 còn là 75%. Hiện nay chỉ số phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam mới chiếm 1,9%, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế do nhân tố trí tuệ chỉ khoảng 16%, tỷ lệ ngành công nghệ cao chiếm 15,7%. Xuất khẩu công nghệ cao năm 2003 mới có 2,5%, khi đó Trung Quốc là 27%, ThaiLan là 30%, Singapore là 59%. Tốc độ công nghiệp hóa chậm. Nền giáo đục lạc hậu. Trình độ KH&CN thấp, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập.
Để “rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức”, đẩy nhanh tốc độ công nhân hóa lực lượng lao động, trí thức hóa công nhân, nước ta phải đổi mới và phát triển mạnh các ngành, các sản phẩm có giá trị sản phẩm gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, phải đổi mới nền giáo dục theo hướng hiện đại, phát triển KH&CN hiện đại và phải có cơ chế và chính sách phù hợp với sự phát triển kinh tế tri thức. Trước hết, cần quán triệt một số quan điểm cơ bản: Thực hiện trí thức hóa đội ngũ công nhân phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các ngành, mà nòng cất là giáo đục – đào tạo, các lực lượng, trong đó đội ngũ trí thức có vị trí quan trọng đặc biệt. Chủ thể quan trọng hàng đầu và là đối tượng trực tiếp của quá trình trí thức hóa công nhân chính là sự tích cực học tập, tự hoàn thiện và vươn tới của bản thân người công nhân. Công nhân hóa lực lượng lao động, trí thức hóa đội ngũ công nhân phải được coi là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH và sự phát triển của kinh tế tri thức. Nó phải được kết hợp chặt chẽ, “Thống nhất định hướng giữa phát triển KH&CN với chấn hưng giáo đục – đào tạo”. Phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hoạt động KH&CN và GDĐT với phát triển kinh tế. Nội dung trí thức hóa công nhân phải toàn diện và đồng bộ được triển khai ở tất cả các ngành kinh tế – kỹ thuật, công – nông nghiệp và dịch vụ.
*Kết luận:
Trong xã hội Việt Nam ngày nay,giai cấp công nhân đang ngày càng lớn mạnh và khẳng định đc vai trò của mình trong công cuộc đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội,phấn đấu cho một đất nước ngày càng giầu đẹp.Để làm được điều đó không những Đảng ta mà toàn dân tộc trong đó giai cấp công nhân là nòng cốt phải tự mình phấn đấu,nâng cao tri thức tay nghề để có thế làm tốt sứ mệnh lịch sử đã đề ra.Bên cạnh đó cũng phải rèn luyện về tư tưởng,giữ vững lập trường chính trị,tránh bị các thế lực thù địch lôi kéo,tránh xa các tệ nạn xã hội ,góp phần làm xã hội ngày càng trong sạch,văn minh ,lịch sự.Phấn đấu đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công nghiệp trong năm 2020 như đúng mục tiêu mà Đảng và nhà nước đã đặt ra,đưa nước ta lên một tầm cao mới.Trong thư gửi học sinh,bác Hồ đã nói rằng :”Dân tộc ta có được trở nên vẻ vang hay không,đất nước ta có được sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không,ấy là nhờ vào công học tập của các cháu” Câu nói vẫn còn nguyên giá trị ,và thế hệ thanh niên,đặc biệt là Sinh viên càng phải ccố gắng hơn trong học tập,góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước.

 

 

 

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s