ĐỀ CƯƠNG MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

ĐỀ CƯƠNG

MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Câu 1: Trình bày khái niệm của nền sản xuất và yếu tố hình thành của nền sản xuất.

Bài làm:

  • Nền sản xuất:

a. Sản xuất của cải vật chất và vai trò của nó

Sản xuất xã hội và sản xuất của cải vật chất: sản xuất của cải vật chất là khái niệm hẹp

hơn khái niệm sản xuất xã hội. Đứng trên quan điểm duy vật, cái gốc của sản xuất xã hội là sản xuất của cải vật chất của xã hội, vì vậy nói sản xuất xã hội trên mức độ lớn là muốn nói sản xuất của cải vật chất của xã hội.

Khái niệm sản xuất của cải vật chất: là quá trình con người sử dụng công cụ lao động

tác động vào tự nhiên nhằm biến đổi vật thể của tự nhiên để tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình.

– Vai trò của sản xuất của cải vật chất:

+ Là hoạt động cơbản nhất trong các hoạt động của con người.

+ Là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội loài người.

+ Là quá trình hoàn thiện bản thân con người.

+ Là cơ sở hình thành và phát triển các chế độ nhà nước, quan điểm luật pháp, đạo đức,

tôn giáo…của con người.

– Từ vai trò của sản xuất của cải vật chất C.Mác và Ăng ghen đã rút ra nguyên lý: sản

xuất của cải vật chất là cơ sở, là điều kiện tiên quyết, tất yếu và vĩnh viễn của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.

Ý nghĩa của nguyên lý:

+ Giúp ta hiểu được nguyên nhân cơ bản trong sự phát triển của nền văn minh nhân

loại qua các giai đoạn lịch sử khác nhau đều bắt nguồn từ sự thay đổi các phương thức sản xuất của cải vật chất.

+ Giúp ta hiểu được nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng trong đời sống xã hội là

xuất phát từ lĩnh vực sản xuất của cải vật chất hay là từ các nguyên nhân kinh tế.

b. Cácyếu tố cơbản của quá trình sản xuất

Xuất phát từ khái niệm sản xuất của cải vật chất, quá trình sản xuất của cải vật chất luôn

có sự tác động qua lại của

* Yếu tố hình thành của nền sản xuất

Có 3 yếu tố cơ bản

sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động.

– Sức lao động

+ Khái niệm: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng

trong quá trình lao động, là khả năng lao động của con người, là điều kịên cơ bản của sản

xuất ở bất cứ xã hội nào.

+ Phân biệt sức lao động với lao động: Sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động,

lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người; là hoạt động đặc trưng riêng của con người.

+ Vai trò của sức lao động, lao động trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã

hội: trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội vai trò của sức lao động, của nhân tố con người ngày càng tăng lên, con người giữ vai trò quyết định nhất đối với quá trình sản xuất, con người vừa là động lực, vừa là mục đích cuối cùng của sự phát triển kinh tế xã hội. Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với sức lao động, đòi hỏi phải nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụcủa người lao động một cách tương ứng.

Đối tượng lao động

+ Khái niệm: Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con

người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. Nó chính là yếu tố vật chất của sản phẩm tương lai.

+ Phân loại:

Loại có sẵn trong tự nhiên: là những vật mà lao động của con người chỉ cần tách nó ra

khỏi môi trường tồn tại của nó là có thể sử dụng được. VD: cá ở biển, gỗ ở trong rừng nguyên thuỷ, khoáng sản trong lòng đất, cát ở dưới sông,…Loại này thường là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp khai thác và có xu hướng cạn kiệt dần trong tương lai.

Loại đã qua chế biến: là những vật mà đã có sự tác động của lao động trước đó của con

người, gọi là nguyên liệu. VD: sắt trong nhà máy, gỗ trong xưởng mộc, xi măng, gạch mới ra lò…Loại này thường là đối tượng của ngành công nghiệp chế biến và có xu hướng ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ. Chẳng hạn việc tạo ra nhiều vật liệu mới có các tính năng mới, có chất lượng tốt hơn vật liệu truyền thống, song cơ sở của các vật liệu nhân tạo này vẫn có nguồn gốc từ tựnhiên, vẫn lấy ra từđất và lòng đất.

Tư liệu lao động

+ Khái niệm: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động

của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm phù hợp nhu cầu của con người. Ví dụ: cưa gỗ, dao thái thịt…

+ Kết cấu tưliệu lao động gồm:

Công cụ lao động

Đây là bộ phận truyền dẫn trực tiếp sự tác động của con người vào

đối tượng lao động. Công cụ lao động giữ vai trò là xương cốt, bắp thịt của sản xuất, quyết định năng suất lao động của con người. VD: hòn đá, cái gậy là công cụ lao động của người nguyên thuỷ; cái cày, cái cuốc là công cụ lao động của người nông dân trong nền sản xuất nhỏ lạc hậu; máy móc cơkhí, máy móc tựđộng là công cụ lao động trong nền sản xuất hiện đại…

Hệ thống bình chứa của sản xuất. Những đồ dùng để chứa đựng, bảo quản đối tượng lao động và sản phẩm của lao động như bình , lọ, chai,… Kết cấu hạ tầng của sản xuấtlà bộ phận phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất như: nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, băng truyền, đường xá, các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc…Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì công cụ lao động có ý nghĩa quyết định nhất. Trình độ phát triển của công cụlao động phản ánh trình độnền sản xuất xã hội, là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng cũng có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong sản xuất hiện đại. Kết cấu hạ tầng có tác động đến toàn bộ nền kinh tế. Trình độ tiên tiến hay lạc hậu của kết cấu hạ tầng sản xuất sẽ thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng là một trong số các chỉtiêu khi đánh giá trình độ phát triển của một nước hiện nay.

Câu 2: Trình bày những nội dung cơ bản của PTSX(LLSX, QHSX,PTSXHH)

Bài làm:

Để tiến hành lao động sản xuất con người phải giải quyết 2 mối quan hệ có tác động lẫn nhau, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất (mặt tự nhiên của sản xuất – lực lượng sản xuất ) và quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất (mặt xã hội của sản xuất – quan hệ sản xuất). Sự thống nhất giữa 2 mặt của nền sản xuất xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gọi là phương thức sản xuất xã hội. Do đó, sản xuất của cải vật chất được tiến hành trong các phương thức sản xuất cụthể.

* Lực lượng sản xuất: là toàn bộ những năng lực sản xuất của một quốc gia ở một thời

kỳ nhất định. Nó biểu biện mối quan hệ tác động của con người với tự nhiên, trình độ hiểu biết tự nhiên và năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất.

Lực lượng sản xuất gồm có:

Tiêu chí đánh giá sự phát triển của lực lượng sản xuất: các yếu tố hợp thành của lực

lượng sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phát triển của toàn bộ các yếu tố hợp thành, trong đó trình độ của công cụlao động và trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật, chuyên môn, kỹ năng của người lao động là những nhân tố có ý nghĩa quyết định nhất. Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở tiêu chí chung nhất là năng suất lao động xã hội.

Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.

LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Tư liệu sản xuất hệ thống bình chứa, ống dẫn ,Thể lựcTư liệu lao động, Đối tượng lao động, Đã qua chế biến, Có sẵn trong tự nhiên, Trí lựcNgười lao động,Công cụ lao động, Kết cấu hạ tầng của sản xuất

 Quan hệ sản xuất:

là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất xã hội.

– Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.

– Quan hệ sản xuất là quan hệgiữa người với người thểhiện trên 3 mặt chủyếu:

+ Quan hệ về sở hữu các tưliệu sản xuất chủyếu của xãhội (quan hệsởhữu)

+ Quan hệ về tổ chức, quản lýsản xuất (quan hệquản lý)

+ Quan hệ về phân phối sản phẩm xãhội (quan hệphân phối)

Ba mặt trên của quan hệ sản xuất có quan hệ tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu

giữ vai trò quyết định, chi phối quan hệ quản lý và phân phối. Tuy nhiên, quan hệ quản lý và phân phối cũng có tác động trởlại quan hệ sở hữu. Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó biểu hiện thành các phạm trù, qui luật kinh tế.

  • Phương thức sản xuất:

Sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tức là lực lượng sản xuất quyết định quan hệsản xuất (trình độ lực lượng sản xuất qui định các hình thức tổ chức kinh tế như phân công laođộng, hiệp tác, tập trung sản xuất…đòi hỏi những hình thức sở hữu, quản lý, phân phối sản phẩm phù hợp). Quan hệ sản xuất tồn tại khách quan, con người không thể tự chọn quan hệ sản xuất một cách chủ quan, duy ý chí, quan hệ sản xuất do tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất xã hội qui định. Quan hệ sản xuất lại có tác động trở lại lực lượng sản xuất (thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong trường hợp ngược lại) Đây là qui luật kinh tếchung của mọi phương thức sản xuất.

Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên biến đổi,

phát triển. Bởi vì, khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng làm cho tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ sản xuất ngày càng tiên tiến, hiện đại.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định đòi hỏi quan hệ sản xuất phù hợp. Chẳng hạn, với trình độ kỹ thuật thủ công, thô sơ thì nền sản xuất xã hội chưa thể chuyên môn hoá sâu và hiệp tác hoá chặt chẽgiữa các đơn vịsản xuất được, các đơn vịsản xuất phân tán, nhỏ bé, độc lập với nhau và mang nặng tính chất tự cấp, tự túc. Còn trong nền sản xuất máy móc thì sản xuất được tập trung thành các xí nghiệp lớn, các liên hiệp xí nghiệp, công ty, các khu công nghiệp lớn, các xí nghiệp được chuyên môn hoá sâu và hiệp tác, phụ thuộc vào nhau chặt chẽ. Quan hệ kinh tế – tổ chức phản ánh trực tiếp tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất xã hội và độc lập tương đối với các hình thái kinh tế xã hội. Ví dụ, việc sản xuất theodây chuyền, các hình thức phân công, hợp tác sản xuất, các hình thức tổ chức xí nghiệp…dựa trên trình độkỹ thuật tương ứng chứkhông phụthuộc vào chế độ xã hội nào.

Câu 3: Trình bày đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của bộ môn kinh tế chính trị ?

Bài làm

  1. 1.     Đối tượng nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin được xác định dựa trên quan điểm duy vật lịch sử: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội.

Kinh tế chính trị là khoa học xã hội, có đối tượng nghiên cứu là: quan hệ sản xuất

trong sựtác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.

Mục đích nghiên cứu: tìm ra bản chất của các hiện tượng, các quá trình kinh tế, phát

hiện ra các phạm trù, quy luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài

người.

+ Các phạm trù kinh tế: hàng hoá, tiền tệ, giá trị…là những khái niệm phản ánh bản

chất của những hiện tượng kinh tế.

+ Các qui luật kinh tế: qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh…phản ánh những mối liên

hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên lặp đi, lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

Tính chất của qui luật kinh tế mang tính khách quan và có tính lịch sử, chỉ xuất hiện,tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định và mất đi khi điều kiện đó không còn. Con người không thể sáng tạo hay thủ tiêu qui luật kinh tế mà chỉ có thể phát hiện, nhận thức và vận dụng qui luật kinh tế để phục vụ cho hoạt động kinh tế của mình. Qui luật kinh tế chi phối các hiện tượng và quá trình kinh tế.

Khác với qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế là qui luật xã hội, nó chỉ có thể phát sinh

tác dụng thông qua hoạt động kinh tế của con người. Nếu nhận thức đúng và hành động theo qui luật kinh tế sẽ mang lại hiệu quả, ngược lại sẽ phải chịu những tổn thất. Phân loại qui luật kinh tế đặc thù: chỉ tồn tại trong một, một số phương thức sản xuất nhất định (qui luật giá trị, qui luật lưu thông tiền tệ…); qui luật kinh tế chung: tồn tại trong mọi phương thức sản xuất (qui luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển.

  1. 2.     Phương pháp nghiên cứu :

a. Phươngpháp biện chứngduyvật

Trong kinh tế chính trị phương pháp này đòi hỏi khi xem xét các hiện tượng, các quá

trình kinh tế phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích luỹ những biến đổi vềlượng dẫn đến những biến đổi vềchất.

b. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học

Khác với các môn khoa học tự nhiên, kinh tế chính trị không thể tiến hành các phương

pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm mà chỉ có thể thử nghiệm trong đời sống hiện

thực, trong các quan hệ xã hội hiện thực. Do đó, phương pháp quan trọng của kinh tế chính trị là trừu tượng hoá khoa học.Phương pháp này đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó. Từ đó tìm ra bản chất của các hiện tượng, các quá trình kinh tế, hình thành các phạm trù và phát hiện ra qui luật phản ánh những bản chất đó.

Chú ý khi sử dụng phương pháp này: là việc xác định giới hạn của trừu tượng hoá. Tức

là việc loại bỏ những cái cụ thể nằm trên bề mặt của cuộc sống phải bảo đảm tìm ra được mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượng duới dạng thuần tuý nhất của nó; đồng thời phải bảo đảm không làm mất nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu; không được tuỳ tiện loại bỏ cái không được phép loại bỏ, hoặc ngược lại, giữ lại cái đáng loại bỏ. Giới hạn của phép trừu tượng hoá được qui định bởi chính đối tượng nghiên cứu. Trừu tượng hoá khoa học gắn liền với quá trình nghiên cứu đi từ cụ thể đến trừu tượng,

nhờ đó nêu lên những khái niệm, phạmtrù và vạch ra những mối quan hệgiữa chúng phải được bổ sung bằng một quá trình ngược lại – đi từ trừu tượng đến cụ thể. Cái cụ thể này không còn là những hiện tượng hỗn độn, ngẫu nhiên màlàbức tranh có tính qui luật của đời sống xã hội.

c. Cácphương pháp khác

– Phương pháp logic kết hợp với lịch sử

– Phương pháp phân tích và tổng hợp.

– Phương pháp toán học, thống kê, môhình hoá các quá trình kinh tế.

          3. Chức năng của bộ môn kinh tế chính trị ?

a. Chức năngnhận thức

– Là chìa khoá để nhận thức lịch sử phát triển của sản xuất vật chất và lịch sử phát triển

của xã hội loài người nói chung, vềCNTB nói riêng

– Là cơ sởkhoa họccho sựnhận thức sâu sắc đường lối, chính sách kinh tế.

b. Chức năng tư tưởng

– Xây dựng thế giới quan cách mạng và niềm tin sâu sắc của người học vào cuộc đấu

tranh của giai cấp công nhân nhằm xoá bỏ áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc, xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN.

Kinh tếchính trịMác – Lênin cùng với các bộ phận hợp thành khác của chủ nghĩa Mác  Lênin, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, xây dựng chếđộxãhội mới.

c. Chức năng thực tiễn

– Đề ra đường lối, chính sách kinh tế nhằm tác động vào hoạt động kinh tế, định hướng

cho sự phát triển kinh tế;

– Giải thích những hiện tượng xảy ra trong đời sống thực tiễn.

d. Chức năngphương pháp luận

Kinh tế chính trị là nền tảng lý luận cho các khoa học kinh tế, trong đó có các khoa học

kinh tế ngành như kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, vận tải, lao động, tài chính, lưu

thông tiền tệvàtín dụng…

2. Quan hệgiữa Kinh tếchính trịMác – Lênin với các khoa học kinh tếkhác

Kinh tế chính trị nghiên cứu toàn diện và tổng hợp quan hệ sản xuất trong sự tác động

qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, nghiên cứu quá trình sản xuất của cải vật chất nhưng không phải là sản xuất của những đơn vị, cá nhân riêng biệt mà là nền sản xuất có tính chất xã hội, có tính chất lịch sử. Kinh tế chính trị đi sâu vào các mối liên hệ bản chất bên trong của các hiện tượng và quá trình kinh tế, vạch ra các qui luật chung của sự vận động của một phương thức sản xuất nhất định. Các môn khoa học kinh tế khác chỉ nghiên cứu trong phạm vicủa từng ngành, từng lĩnh

vực kinh tế cụ thể, nó dựa trên những nguyên lý, qui luật mà kinh tế chính trị nêu ra để phân tích những qui luật vận động riêng của từng ngành, từng lĩnh vực cụthể.

Kinh tế chính trị là cơ sở cho các khoa học kinh tế khác nhau, còn các khoa học kinh tế

cụ thể lại bổ sung, cụ thể hoá và làm giàu thêm những nguyên lý và qui luật chung của kinh tếchính trị.

3. Sựcần thiết học tập môn kinh tếchính trịMác – Lênin

– Giúp người học hiểu được bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, nắm được

các qui luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển kinh tế. Phát triển lý luận kinh tế, vận dụng lý luận đó vào thực tế, hành động theo qui luật, tránh bệnh chủquan, giáođiều duy ý chí.

– Là cơ sởcho người học hình thành tưduy kinh tế.

– Giúp cho người học có khảnăng hiểu được một cách sâu sắc các đường lối, chiến lược

phát triển kinh tế của đất nước và các chính sách kinh tế cụ thể của Đảng và nhà nước ta, tạo niềm tin có cơ sởkhoa học vào đường lối, chiến lược, chính sách đó.

– Giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường XHCN mà Đảng và nhân dân đã

lựa chọn (trên cơ sở hiểu được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của các phương thức sản xuất, các hình thái kinh tếxã hội.)

Câu 4: Trình bày khái niệm, điều kiện ra đời, các ưu thế của sản xuất hàng hoá.
Bài làm:
1. Trước hết, để hiểu sản xuất hàng hoá, ta cần hiểu thế nào là kinh tế tự nhiên. Kinh tế tự nhiên là kiểu sản xuất tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất ra nó. Kiểu sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ, lực lượng lao động phát triển thấp, phân công lao động kém phát triển.
Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà đáp ứng nhu cầu của XH thông qua trao đổi mua bán.
2. Để sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại cần có hai điều kiện:
Thứ nhất là phải có sự phân công lao động XH, tức là có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động XH vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác. Sự phân chia lao động XH sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người khi đó sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau. Do đó, tất yếu dẫn đến trao đổi mua bán. Sự phân công lao động cũng làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến.. Đây là tiền đề, cơ sở cho sản xuất hàng hoá.
Thứ hai là phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối. Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định.
Đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá. Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có sản xuất hàng hoá.
3. So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn.
Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn.
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn.
Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi như cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH.

Câu 5:Trình bày các thuộc tính và mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá và tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và mối quan hệ giữa chúng.
Bài làm:
1. Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi buôn bán.
Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như sắt, thép, thực phẩm… hay vô hình như dịch vụ, giao thông vận tải… nhưng dù ở dạng nào nó cũng có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
2. Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Hàng hoá nào cũng có một hay một vài công dụng và cộng dụng đó làm nó có giá trị sử dụng. Ví dụ như gạo là dùng để ăn, giá trị sử dụng của gạo là để ăn…
Giá trị sử dụng của hàng hoá là do thuộc tín tự nhiên (Lý, hoá, sinh) của thực thể hàng hoá đó quy định nhưng việc phát hiện ra những thuộc tính có ích đó lại phụ thuộc vào sự phát triển của XH, của con người. XH càng tiến bộ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng ngày càng phong phú và chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
Giá trị sử dụng là giá trị sử dung XH. Nó không phải là giá trị sử dụng cho người trực tiếp sản xuất mà là cho XH thông qua trao đổi mua bán. Do đó, người sản xuất phải luôn quan tâm đến như cầu của XH, làm cho sản phẩm của họ phù hợp với nhu cầu XH.
Giá trị sử dụng mang trên mình giá trị trao đổi.
3. Để hiểu giá trị của hàng hoá, trước hết, ta phải hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ như: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc.
Hai hàng hoá khác nhau như vậy có thể trao đổi với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung. Lao động hao phí tạo ra hàng hoá chính là cơ sở chung cho việc trao đổi đó và tạo ra giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động XH của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm. Giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi.
Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá.
4. Hai thuộc tính đó của hàng hoá vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất. Chúng thống nhất ở chỗ: chúng cùng tồn tại trong hàng hoá, một hàng hoá phải có hai thuộc tính này, thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá. Tuy nhiên, chúng mâu thuẫn ở hai điểm: thứ nhất, về một giá trị sử dụng thì hàng hoá khác nhau về chất còn về mặt giá trị thì hàng hoá lại giống nhau về chất; Thứ hai, giá trị được sử dụng trong quá trình lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
5.Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể).
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Do đó, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.Nếu phân công lao động XH càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của XH.
Lao động trừu tượng chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hoá nói chung. Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo ra giá trị của hàng hoá. Ta có thể nói, giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hoá. Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hoá.

Câu 6: Trình bày lượng giá trị hàng hoá và các yêú tố ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá.
Bài làm:
1. Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Vậy lượng lao động của hàng hoá được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động.
Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một hàng hoá nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau… làm cho thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó là khác nhau, tức là mức hao phí lao động cá biệt khác nhau. Nhưng lượng giá trị của hàng hoá không do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định mà do thời gian lao động XH cần thiết.
Thời gian lao động XH cần thiết là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó trong điều kiện bình thường của XH với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong XH đó. Vậy, thực chất, thời gian lao động XH cần thiết là mức hao phí lao động XH trung bình (thời gian lao động XH trung bình) để sản xuất ra hàng hoá. Thời gian lao động XH cần thiết có thể thay đổi. Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng thay đổi.
2. Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá.
Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên tức là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, tức là giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm và ngược lại. Vậy, giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Mặt khác, năng suất lao động lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất… nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên.
Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thăng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động.
Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trinh trao đổi mua bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn trung bình một cách tự phát.

Câu 7:Trình bày nguồn gốc, bản chất của tiền tệ và chức năng của tiền tệ, quy luật lưu thông tiền tệ.
Bài làm:
1. Nguồn gốc của tiền tệ.
Để tìm hiểu nguồn gốc của tiền tệ, ta hãy xem xét quá trình phát triển của các hình thái biểu hiện của giá trị:
Đầu tiên là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giá trị. Hình thái này xuất hiện khi xã hội nguyên thủy tan rã và chỉ thường gặp ở những mầm mống đầu tiên của trao đổi. Ở đây, giá trị của hàng hoá này chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng hoá khác và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên. Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo. Cái áo ở đây đóng vai trò vật ngang giá – hình thái phôi thai của tiền tệ.
Khi quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn, thường xuyên, thúc đẩy sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển thì hình thái thứ hai là hình thái đầy đủ hay mở rộng của hàng hoá ra đời. Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi một hàng hoá nào đó được trao đổi với nhiều hàng hoá khác một cách thông thường phổ biến. Ở đây, giá trị của hàng hoá được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá. Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định. Tuy nhiên, ở hình thái này, giá trị của hàng hoá được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất và vẫn trao đổi trực tiếp hàng – hàng. Ví dụ như 20 vuông vải = 1 cái áo, = 10 đấu chè, = 40 đấu cà phê, = 0,2 gam vàng…
Do đó, khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung, hình thái thứ ba xuất hiện: Hình thái chung của giá trị. Ở hình thái này, giá trị của mọi hàng hoá được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò làm vật ngang giá chung – “vật ngang giá phổ biến”. Các hàng hoá đều đổi thành vật ngang giá chung, sau đó mới mang đổi lấy hàng hoá cần dùng. Vật ngang giá chung trở thành môi giới. Tuy nhiên, ở hình thái này, bất kỳ hàng hoá nào cũng có thể trở thành vật ngang giá chung, miễn là nó được tách ra làm vật ngang giá chung. Ví dụ như 1 cái áo hoặc 10 đấu chè hoặc 40 đấu cà phê hoặc 0,2 gam vàng = 20 vuông vải.
Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thông nhất thì hình thái thứ tư ra đời: hình thái tiền. Giá trị của tất cả các hàng hoá ở đây đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò tiền tệ. Lúc đầu có nhiều hàng hoá đóng vai trò tiền tệ nhưng dần dần được chuyển sang các kim loại quý như đồng, bạc và cuối cùng là vàng. Ví dụ như: 10 vuông vải hoặc 1 cái áo hoặc 10 đấu chè = 0.02 gam vàng.
Như vậy, tiền ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá.
2. Bản chất của tiền:
Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hoá. Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
3. Tiền có 5 chức năng. Nó là thước đo giá trị, là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới.
Trước hết, tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác. Khi đó, giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hoá. Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị.
Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá, tức là tiền đóng vai trò là một phương tiện lưu thông. Khi ấy, trao đổi hàng hoá vận động theo công thức H – T – H’. Đây là công thức lưu thông hàng hoá giản đơn. Với chức năng này, tiền xuất hiện dưới các hình thức vàng thoi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy. Tiền giấy là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận. Tiền giấy không có giá trị thực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền). Khi thực hiện chức năng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khủng hoảng.
Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại để khi cần thì đem ra mua hàng. Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ. Ngoài ra, tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt là dự trữ tiền cho lưu thông.
Khi kinh tế hàng hoá phát triển đến một mức độ nào đó tất yếu sẽ sinh ra mua bán chịu và tiền có thêm chức năng phương tiện thanh toán như trả nợ, đóng thuế… Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời như cầu của người sản xuất hoặc tiêu dùng ngay cả khi họ chưa có tiền hoặc không đủ tiền. Nhưng nó cũng làm cho khả năng khủng hoảng tăng lên. Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán, loại tiền mới – tiền tín dụng – xuất hiện, có nghĩa là hình thức tiền đã phát triển hơn.
Chức năng cuối cùng của tiền là tiền tệ thế giới. Chức năng này xuất hiện khi buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước. Khi thực hiện chức năng này, tiền thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, tín dụng, di chuyển của cải từ nước này sang nước khác. Thực hiện trức năng này phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền của nước này sang tiền của nước khác tuân theo tỷ giá hổi đoái, tức là giá cả của một đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền của nước khác.
Tóm lại, cùng với sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, tiền có 5 chức năng. Những chức năng này có quan hệ mật thiết và thông thường tiền làm nhiều chức năng một lúc.

Câu 8: Trình bày nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị , quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu.

Bài làm:

* Quy luật giá trị
1. Quy luật giá trị là quy luật giá trị cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị hàng hoá của nó, tức là trên cơ sở hao phí lao động XH cần thiết.
Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết. Còn trong trao đổi hay lưu thông thì phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Trao đổi mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị. Giá cả hàng hoá trên thị trường có thể bằng hoặc dao động lên xuống xung quanh giá trị hàng hoá nhưng xét trên phạm vi toàn XH thì tổng giá cả bằng tổng giá trị.
2. Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có ba tác động sau:
Thứ nhất, nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Khi một hàng hoá có giá cả cao hơn giá trị, bán có lãi, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư tư liệu sản xuất và sức lao động, đồng thời những người sản xuất các hàng hoá khác có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này. Còn nếu mặt hàng đó có giá cả thấp hơn giá trị, bị lỗ vốn thì người sản xuất phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, nó còn thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
Quy luật giá trị cũng kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm… Bởi vì trong sản xuất hàng hoá, để tồn tại và có lãi, mọi người sản xuất đều phải tìm làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức lao động xã hội cần thiết. Cuộc canh tranh càng khiến cho những người sản xuất tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động… mạnh mẽ hơn. Mọi người sản xuất đều làm như vậy sẽ làm cho năng suất lao động của toàn xã hội tăng lên, sản xuất ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, quy luật giá trị cũng tự phát phân hoá người sản xuất ra thành người giàu và người nghèo. Người sản xuất nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thu được nhiều lãi và giàu lên, mở rộng sản xuất, thậm chí trở thành ông chủ thuê nhân công. Còn những người sản xuất có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản và trở thành công nhân làm thuê.
Vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Chúng ta cần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
3. Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hoá trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.
Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quuyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền.

* Quy luật cạnh tranh

1. Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có nhiều biện pháp cạn tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá…) hoặc phi giá cả (quảng cáo…).
2. Dễ thấy, cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh trạnh.
3. Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Đó chính là cạnh tranh lành mạnh. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác dụng tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại…) hoặc những hành vi cạnh tranh làm phân hoá giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.

* Quy luật cung cầu

1. Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, là số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô của cầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sức mua của đồng tiền, thị hiếu người tiêu dùng… trong đó giá cả là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
2. Cung là tổng số hàng hoá có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường, là số hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán ở những mức giá khác nhau vào những thời điểm nhất định. Quy mô cung thuộc vào các yêu tố như số lượng, chất lượng các yếu tố sản xuất, chi phí sản xuất… trong đó, cũng như cầu, giá cả có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
3. Cung và cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường. Cầu xác định khối lượng, cơ cấu của cung về hàng hoá: hàng hoá nào có cầu thì mới được cung ứng sản xuất; hàng hoá nào tiêu thụ được nhiều (cầu lớn) thì sẽ được cung ứng nhiều và ngược lại. Đối với cung thì cung cũng tác động, kích thích cầu: những hàng hoá được sản xuất phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng sẽ được ưa thích, bán chạy hơn, làm cho cầu của chúng tăng lên.
Không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau, cung – cầu còn ảnh hưởng tới giá cả. Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị. Còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị. Giá cả cũng tác động lại tới cung và cầu, điều tiết làm cung, cầu trở về xu hướng cân bằng với nhau. Ví dụ như khi cung cao hơn cầu, giá cả giảm, cầu tăng lên còn cung lại giảm dần dẫn đến cung cầu trở lại xu thế cân bằng.
4. Cung – cầu cũng là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì cũng như cạnh tranh, nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Sự phân công lao động XH đã dẫn đến nhu cầu mua bán, trao đổi, tức là phát sinh ra cung và cầu. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn sự phân công lao động, tức là còn cung và cầu thì quan hệ cung cầu sẽ vẫn còn tồn tại và tác động lên nền sản xuất hàng hoá.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s